Sân khấu dân gian Tình yêu đôi lứa.

THỊ MẬU LÊN CHÙA TRÍCH ‘QUAN ÂM THỊ KÍNH’

Đoạn trích "Thị Mầu lên chùa" kể về nhân vật Thị Mầu – một cô gái nhà giàu, xinh đẹp nhưng lẳng lơ, đa tình – lên chùa và đem lòng say mê tiểu Kính Tâm. Tại chùa, Thị Mầu chủ động ve vãn, tỏ tình với tiểu Kính Tâm nhưng không được đáp lại. Qua những lời nói, cử chỉ táo bạo và hài hước của Thị Mầu, đoạn trích làm nổi bật tính cách bộc trực, khát khao tình yêu của nhân vật, đồng thời tạo nên tiếng cười dân gian đặc sắc trong vở chèo Quan Âm Thị Kính.

THỊ MẬU LÊN CHÙA TRÍCH ‘QUAN ÂM THỊ KÍNH’

Tóm tắt

Thị Mầu là con gái phú ông, xinh đẹp nhưng lẳng lơ. Trong một lần lên chùa, Thị Mầu gặp tiểu Kính Tâm và đem lòng say mê. Cô chủ động tìm cách làm quen, tỏ tình và trêu ghẹo tiểu Kính Tâm. Tuy nhiên, Kính Tâm một lòng tu hành nên luôn giữ thái độ nghiêm trang, từ chối mọi lời ve vãn của Thị Mầu. Không đạt được ý muốn, Thị Mầu đành ra về trong tâm trạng tiếc nuối. Đoạn trích thể hiện rõ tính cách táo bạo, ham yêu của Thị Mầu và phẩm chất thanh cao, nhẫn nhịn của Kính Tâm trong vở chèo Quan Âm Thị Kính.

Nội dung

 Trích đoạn “Thị Mầu lên chùa” cũng vậy, đằng sau tích truyện là nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đó, tác giả dân gian muốn khẳng định vẻ đẹp truyền thống, đức tính tốt đẹp của người con gái xưa qua nhân vật Thị Kính. Thị Kính vừa đẹp nét lại đẹp người, lại có tấm lòng nhân hậu, bao dung, chính chân vô cùng, nhưng cũng giống bao người phụ nữ khác rơi vào cảnh “hồng nhan nhưng bạc mệnh”. Song song với nhân vật Thị Kính, nhân vật Thị Mầu cũng đem đến cách nhìn, quan niệm đáng suy ngẫm về người phụ nữ trong xã hội xưa, từ đó, thể hiện tiếng nói đề cao khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ.

 Trích đoạn “Thị Mầu lên chùa” cũng vậy, đằng sau tích truyện là nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đó, tác giả dân gian muốn khẳng định vẻ đẹp truyền thống, đức tính tốt đẹp của người con gái xưa qua nhân vật Thị Kính. Thị Kính vừa đẹp nét lại đẹp người, lại có tấm lòng nhân hậu, bao dung, chính chân vô cùng, nhưng cũng giống bao người phụ nữ khác rơi vào cảnh “hồng nhan nhưng bạc mệnh”. Song song với nhân vật Thị Kính, nhân vật Thị Mầu cũng đem đến cách nhìn, quan niệm đáng suy ngẫm về người phụ nữ trong xã hội xưa, từ đó, thể hiện tiếng nói đề cao khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ.

 

Phân tích cơ bản

Nhân vật Thị Mầu

a. Khái quát

Hình ảnh Thị Mầu trong đoạn trích gợi cho ta ấn tượng về một cô gái xinh đẹp, là lướt có phần lẳng lơ, thiếu sự thành tâm, nghiêm túc nơi cửa chùa. Thị Mầu là biểu tượng của khát vọng tình yêu, là sự phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của tình yêu đối với những trói buộc khắt khe, vô nhân đạo của lễ giáo phong kiến khắc với số đông nhân vật nữ chính khi ra trò đều mang những nét chung của tính cách được giáo dục trong nếp lễ giáo gia đình phong kiến với nền luân lý Nho gia.

b. Ngoại hình

  • Bức ảnh trong sách giáo khoa đã miêu tả về ngoại hình của thị Mầu trong vở chèo: Giữa một không gian linh thiêng và thanh tịnh của nhà chùa, bỗng bất ngờ xuất hiện một Thị Mầu ngồn ngộn vẻ “phàm trần” trong sắc màu lộng lẫy.
  • Thị Mầu xuất hiện đã thu hút người đọc, người xem ngay từ vẻ ngoài của nhân vật. Vẻ đẹp ngoại hình của Mầu có sự cộng hưởng của đôi mắt long đưa, lúng liếng với nụ cười tươi nở ra trên đôi môi đỏ mọng đầy khêu gợi, cái yếm đào rực lửa tình, chiếc áo mớ ba, mớ bảy màu hồng xác pháo rạo rực xuân thì, khăn xanh rực rỡ tung bay, uốn lượn trong những vòng múa khoáng đạt và cuồng nhiệt – tượng trưng cho sự khát khao yêu đương mãnh liệt, sự say đắm, đam mê cháy bỏng của một con người căng tràn nhựa sống, như muốn phá tung mọi ràng buộc của lễ nghi phong kiến.

Rõ ràng vẻ bên ngoài của Mầu từ kịch bản văn học bước ra sân khấu đã hút hồn người xem và toát lên tính cách, tâm tư của Thị, đã cho thấy một Thị Mầu khao khát yêu đương, khao khát tình yêu và nhục cảm.

b. Thị Mầu háo sắc, lẳng lơ

  • Ngay từ đầu, người tiếp nhận đã có ấn tượng đậm nét về Thị Mầu. Thị lên chùa khác với lệ thường là người ta lên chùa vào mười tư, rằm, còn Thị Mầu lên chùa mười ba.
  • Trong lời giới thiệu với chú tiểu, ngoài các thông tin như là con gái phú ông, tuổi đôi tám, Thị Mầu đặc biệt nhấn mạnh thông tin “chưa chồng”:

“Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng đây thầy tiểu ơi!
Chưa chồng đây nhá!”

Lên chùa từ mười ba, giới thiệu nhấn mạnh thông tin chưa chồng và hành động của Thị cho thấy Thị Mầu lên chùa không quan tâm đến việc vào lễ Phật mà để được gặp và tỏ tình với tiểu Kính.

  • Đoạn trích là một cuộc đối thoại, một cuộc tỏ tình “một phía” rất độc đáo. Thị Mầu thả sức bộc lộ, giãi bày tình yêu say đắm của mình bằng những câu hát giao duyên, đôi lúc cởi mở đến sỗ sàng. Việc Thị Mầu ghẹo, tỏ tình với Tiểu Kính được diễn tả bằng chính hai điệu hát “Cấm giá” và “Bình thảo”.
  • “Cấm giá”: vì Thị Mầu mới ve vãn nên câu thơ còn e ấp tế nhị. Ví dụ:

“Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba
Thấy sư mười bốn vãi già mười lăm”

  • “Bình thảo”: Khi mà sự ve vãn bên ngoài không có kết quả, Thị Mầu muốn tỏ tình, muốn chinh phục bằng được bằng lời ca trong điệu hát. Những ngôn ngữ, hành động của Thị Mầu khi bày tỏ tình cảm với chú tiểu như khen “đẹp như sao băng”… , lời bóng gió, ẩn ý:
  • Người đâu đến ở chùa này
    Cổ cao ba ngấn lông mày nét ngang
    (Ấy mấy thầy tiểu ơi)
  • Thầy như táo rụng sân đình
    Em như gái rở đi rình của chua
    (Ấy mấy thầy tiểu ơi)
  • Cau non tiễn chũm lòng đào
    Trầu têm cánh phượng thiếp trao cho chàng
    (Ấy mấy thầy tiểu ơi)…

Ngôn ngữ thể hiện Thị Mẫu ham mê cái đẹp, háo sắc, lẳng lơ, thấy chú tiểu đẹp thì mê , mà mê thì ghẹo mà ghẹo thì phải ghẹo để bày tỏ bằng được. Táo bạo hơn nữa, khi lời nói hành động chưa đủ làm chú Tiểu Kính rung động. Thị Mẫu tiến tới hành động: đợi Tiểu Kính ra và nắm tay, đòi quét chùa thay. Ta thấy sự táo bạo, mãnh liệt, quyết tâm, không e thẹn, do dự , ngại ngùng của Thị Mậu.

c. Thị Mầu đầy khao khát và dám sống thật với lòng mình

  • Lối nói ví von so sánh đã đặc biệt thể hiện khát khao yêu đương của Thị Mầu cho thấy Thị Mầu không ngại việc tỏ bày những suy nghĩ, tình cảm thật:

“Thầy như táo rụng sân đình
Em như gái rở, đi rình của chua”

Trong phép so sánh này, Thị Mầu và Tiểu Kính như quả táo rụng ở sân đình. Cây táo mọc ở sân đình thường cao, sau mùa xuân chín rụng. Vì ít được chăm sóc lại già cỗi nên táo vừa chua, vừa chát. Thị tự ví mình như gái rở tức là người phụ nữ có thai nghén, thường thèm của chua, chát. Người đàn bà ăn rở mà gặp quả táo, hơn nữa lại là rụng mà rụng ở sân đình thì nỗi khát khao thèm muốn càng tăng thêm gấp bội. Việc Thị Mầu ví mình như gái rở, ví tiểu Kính như táo rụng sân đình khiến cho sự khao khát của Thị Mầu hiện ra vừa thật vừa rõ nét mà vừa dễ hiểu.

  • Tiếng gọi “thầy tiểu ơi” lặp đi lặp lại nhiều lần đã bộc lộ nỗi lòng say mê, yêu thương tha thiết của Thị Mầu. Mầu khao khát được yêu, được đáp lại tình yêu chân thành, Mầu dám phơi bày ruột gan tình cảm của mình ra trước mặt mọi người, dám thổ lộ, dám tỏ bày:

Một cành tre, năm bảy cành tre
Phải duyên thời lấy, chớ nghe họ hàng
Ấy mấy thầy tiểu ơi…
Mầu đơn giống cạnh nhà thờ
Đôi ta chỉ quyết đợi chờ lấy nhau

Bởi lời tỏ tình ấy đã diết làm sao, nó chứa chan mong ước về tự do yêu đương, tự do lựa chọn hôn nhân. Thị Mầu khác biệt với Thị Kính, bởi nếu Thị Kính nhẫn nhịn, thị Kính chịu đựng bao nhiêu thì thị Mầu lại bùng nổ bấy nhiêu.

Khát khao được yêu là quyền cơ bản của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Khi lớn lên phải được tự do hiểu, yêu đương và phải lấy người mình yêu. Nhưng đối lập với quyền ấy trong xã hội phong kiến là một lớp sơn đạo đức giả tạo của chế độ hà khắc trói buộc bao người phụ nữ phải tuân theo “tam tòng”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ không được lựa chọn tình yêu và hạnh phúc của riêng mình. Ý thức tự do trong tình yêu bộc lộ ở lời nhủ mình và khuyên chị em chớ nghe họ hàng. Sự thật có biết bao người con gái đau khổ, bất hạnh vì hôn nhân không tình yêu bởi lễ luật ép duyên. Nên lời Thị Mầu thể hiện sự phản kháng với lễ giáo vô lý, chống lại những trói buộc của chế độ phong kiến hà khắc, khát khao hướng tới hạnh phúc của người phụ nữ thời bấy giờ. Người phụ nữ này dám bộc lộ hết mình, biết sống, biết khao khát tận hưởng với đời.

Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta “tán thưởng” Thị Mầu về cách hành xử trong tình yêu, mà chỉ để thấy rõ hơn lý do lỗi lầm của Thị để tha thứ cho một cô gái mang cái “án lẳng lơ” theo suốt chiều dài văn hóa dân tộc. Lỗi lầm của Thị Mầu là ở chỗ yêu say đắm nhưng không hiểu rằng tình yêu cần phải có từ hai phía. Vì thế, Thị đã biến tình yêu của mình thành sự si mê mù quáng, dẫn đến bi kịch cho mình và người mình yêu. Tuy nhiên, Thị Mầu là con người của nghệ thuật. Và nghệ thuật dân gian mang hơi thở của cuộc sống. Nên con người của nghệ thuật phải chăng chính là con người của cuộc đời. Và khát vọng của Thị Mầu là của bao cô gái trong xã hội phong kiến.

  • Khi bị từ chối, tình yêu càng trở nên mãnh liệt. Không đạt được mong muốn, khát khao của Thị Mầu càng cháy bỏng. Nỗi lòng, khát khao hạnh phúc của Thị Mầu nhưng lại bị chú tiểu ngó lơ được thể hiện rõ trong câu hát mang đậm màu sắc ca dao. Nếu ca dao so sánh hình dáng cây trúc với người phụ nữ Việt Nam trẻ trung, mỏng manh và xinh đẹp cho dù đứng ở đâu, dù ở góc độ nào vẫn xinh:

“Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”

Thì ở đây, Thị Mầu biến tấu đi:

“Trúc xinh trúc mọc sân đình
Em xinh em đứng một mình chẳng xinh.”

Thị Mầu được biến tấu dí dỏm như thế nhằm ghẹo chú tiểu, ẩn ý người phụ nữ xinh đẹp cần phải có đôi có cặp mới xinh, còn đứng một mình sẽ không xinh.

  • Kết cục thì Thị Mầu bị từ chối. Xét cho cùng, dù Thị Mầu là con nhà Phú ông, là người có nhiều tính xấu, dám đạp đổ thành trì hủ lậu của chế độ phong kiến nhưng số phận cũng giống như Thị Kính và những người phụ nữ khác, có phận đều bế tắc, không có lối thoát.