Tục ngữ về lao động sản xuất là những câu nói dân gian ngắn gọn, súc tích, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân trong quá trình lao động, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Các câu tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh những kinh nghiệm quý báu của người xưa trong trồng trọt, chăn nuôi, canh tác và tổ chức lao động. Qua đó, cha ông truyền lại những bài học thực tiễn giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và cuộc sống
|
STT |
Câu |
Giải thích |
Nguồn |
|
1 |
Ao sâu tốt cá |
Câu tục ngữ nói về quy luật của thiên nhiên là ở những cái ao sâu thường có cá lớn. Trong một môi trường, hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển sẽ tạo ra những con người có nhân cách đạo đức, có ý chí và khao khát lớn. Những con người ấy sẽ gặt hái được thành công trong cuộc sống của mình.
|
|
|
2 |
Ăn có mời, làm có khiến |
Ăn có mời là một nét đẹp trong văn hóa ăn uống. Biết kính trên, nhường dưới, biết mời mọi người trước khi ăn cũng thể hiện sự lịch sự thiết yếu nhất mà trong văn hóa ứng xử mọi người nên có. “Làm có khiến” là ẩn dụ thể hiện cách cư xử đúng mực về vai trò và bổn phận trách nhiệm của mỗi người cần có, không nên tranh giành làm những việc không phải của mình, vì khi nhận những công việc không phù hợp, khó để đảm đương sẽ rất dễ gây ra những hệ lụy không đáng có.
Câu tục ngữ tựu chung là muốn nói về vấn đề cách cư xử chuẩn mực, mực thước mà mỗi người cần trang bị cho cuộc sống của bản thân mình.
|
|
|
3 |
Ăn có nơi, làm có buổi
|
Câu tục ngữ nhắc nhở con người ăn uống phải đàng hoàng, hẳn hoi, có nơi có chốn, không ăn đầu đường xó chợ, làm việc cũng làm có buổi, có giờ đàng hoàng, làm có kế hoạch, không nên giờ nào cũng làm, tránh mệt người, không hoàn thành được công việc khác.
|
|
|
4 |
Ăn không thì hóc, chẳng xay thóc phải ẵm em
|
Có ăn thì phải có làm, ăn mà không làm giống như mắc xương trong cổ họng. Ăn rồi thì không làm việc nặng nhọc như xay thóc, giã gạo thì cũng phải bế em.
|
|
|
5 |
Ba tháng trồng cây chẳng bằng một ngày trông quả
|
Trồng trọt, bón tưới cây trong ba tháng trời, đến khi cây có quả thì chỉ một ngày là thu hoạch xong. Đại ý câu này nói hưởng kết quả thì dễ, thì chóng, làm nên cái kết quả đó thì khó và lâu.
|
|
|
6 |
Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi
|
Vì con lợn “đào bới”, dũi đất bằng mõm và dùng cặp răng nanh để tự vệ, tấn công kẻ thù chứ không dùng chân trước làm “vũ khí chủ lực”. “Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi”, tóm giò trước hay giò sau còn tùy vào tư thế khi tiếp cận con vật; cặp giò nào bị trói thì con vật cũng “hết đường chạy”. Còn mũi bò là nơi có xỏ dây, nên con người có thể làm chủ con bò ở mũi.
Tục ngữ này đúc kết kinh nghiệm khi bắt lợn, bắt bò. Bắt lợn thì phải bắt đằng chân; bắt bò thì phải bắt đằng dây xỏ qua mũi. Câu tục ngữ này cho thấy phải biết nắm đặc tính của từng loài để điều khiển chúng thì mới hữu hiệu.
|
|
|
7 |
Bụng đói đầu gối phải bò
|
Câu tục ngữ có nghĩa là khi lâm vào nghèo túng, kẻ lười cũng bắt buộc phải xoay xở, phải làm việc thì mới có ăn.
|
|
|
8 |
Bụng đói thì tai điếc
|
Khi đói, ta không còn phân biệt được đúng sai, phải trái nên dễ có những hành động sai trái như cưới giật, lừa đảo. Vì đã đói thì không biết phải trái nên làm liều.
|
|
|
9 |
Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn
|
“Cấy thưa thừa thóc” : Lúa là loài cây ưa sáng, nếu cấy thưa lá cây sẽ nhận đầy đủ ánh sáng, rể hút đủ nước. Nên cây quang hợp thuận lợi , năng suất cao.
“Cấy dày cóc ăn” : Nếu cấy dày lá cây không nhận đủ ánh sáng và rể hút thiếu nước, quá trình quang hợp gặp khó khăn nên năng suất thấp
=> Vậy ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ này là khuyên chúng ta không nên tham lam.
|
|
|
10 |
Cha đánh chẳng lo bằng ăn no giã gạo
|
Giã gạo là công việc nặng nhọc, đòi hỏi người giã phải giơ chày thật cao và hạ xuống thật trúng. Chưa kể, công việc này cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều người. Công việc này vừa nặng nhọc, vừa khó, không nên làm lúc vừa ăn no xong. Câu tục ngữ ý chỉ việc giã gạo rất cực khổ, còn sợ hơn bị cha đánh.
|
|
|
11 |
Chắc rễ bền cây
|
Cây có rễ chắc thì sẽ bền, sống được lâu, trụ vững qua bão táp mưa sa. Câu tục ngữ còn hàm chỉ việc khi bản thân đã xây dựng được sự vững mạnh gốc rễ thì tương lai có thể đương đầu được với nhiều khó khăn, chông gai mà không lo sợ. Còn nếu gốc rễ không đủ cứng, đủ bền thì sẽ bị nước lũ làm xói mòn trôi cả gốc lẫn cây.
|
|
|
12 |
Chăn lợn ba nằm không bằng chăn tằm một lứa
|
Câu tục ngữ là đúc kết kinh nghiệm của ông cha trong việc chăn nuôi: nuôi tằm thu hoạch có lời hơn nuôi lợn rất nhiều.
|
|
|
13 |
Chiêm cứng ré mềm
|
Ruộng truyền thống nước ta có hai loại, ruộng mùa thu (tức ruộng mùa hay mùa chính) và ruộng mùa hè (tức ruộng chiêm, trái vụ). Ở miền Bắc thì vụ mùa (từ khoảng cuối tháng 5 âm lịch, kết thúc vào tháng 11 âm lịch) được coi trọng hơn vụ chiêm (bắt đầu từ khoảng cuối tháng 10 âm lịch, kết thúc khoảng cuối tháng 5 âm lịch)
Câu tục ngữ mô tả tình trạng thời tiết khó khăn khi làm hai vụ lúa (ré là tên của một thứ lúa mùa, chín sớm). Ở miền Bắc, tháng 10, 11 âm lịch mưa ít, độ ẩm thấp, là lúc người ta bắt đầu vụ chiêm; còn mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9 âm lịch, là thời gian vụ mùa.
Khi bắt đầu vụ mùa cần nước để canh tác thì lại hiếm nước, nên mới có câu là “mưa tháng sáu là máu đồng” nhưng đến khi gặt thì lại lụt lội. Tương tự vậy, vào vụ chiêm khi cần phơi ải đất cần ánh nắng thì trời âm u, ít nắng, mà đến khi gặt vào hè thì lại nắng to. Vậy câu tục ngữ cũng có ý nghĩa là cái gì khi thì cần không ra, khi không cần thì lại ra.
|
|
|
14 |
Chó khôn tứ túc huyền đề, tai thì hơi cúp, đuôi thì cong cong
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm chọn chó khôn của dân gian. “Túc” ở đây nghĩa là ngón chân, chân của loài vật, ”Tứ túc huyền đề” còn gọi là “Tứ quý cẩu” ý là một con chó có 4 móng, dư ra một móng nhỏ mọc ở sau khuỷu của 2 chi trước hay 2 chi sau thì được xem “tứ quý “. Con chó sở hữu tướng này được tương truyền mang may mắn và thịnh vượng cho gia chủ.
|
|
|
15 |
Con trâu là đầu cơ nghiệp
|
Trâu là một loài vật quen thuộc quan trọng nhất đối với người nông dân xưa. Còn “đầu” ở đây có nghĩa là đi đầu, là điều quan trọng cần phải có. “Cơ nghiệp” được hiểu là sự nghiệp, là quá trình tạo dựng tài sản cho cuộc sống. Câu tục ngữ “Con trâu là đầu cơ nghiệp” có nghĩa là con trâu là là loài động vật rất quan trọng và cần thiết trong sự nghiệp, cuộc sống của người dân ngày xưa.
|
|
|
16 |
Của đời ông, ăn không cũng hết
|
Câu tục ngữ mang ý nghĩa rằng: có nhiều tiền đến mấy, nếu không làm việc, chỉ ăn thì cũng sẽ có ngày hết tiền, hết của cải. Câu tục ngữ còn ca ngợi lao động tạo ra của cải, vật chất là điều đáng quý, nên làm.
|
|
|
17 |
Của như non, ăn mòn cũng hết
|
Nếu con người chỉ biết ngồi không tiêu xài một cách hoang phí thì núi cũng mòn chứ đừng nói tới của cải – thứ hữu hạn. Câu tục ngữ truyền tải lời răn dạy đến thế hệ sau về ý nghĩa của đức tính cần cù, tiết kiệm thông qua những hình tượng diễn tả chân thực cái giá của sự lêu lỏng và hoang phí.
|
|
|
18 |
Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn
|
Câu tục ngữ này xuất phát từ truyền thống xưa, đàn ông thường chỉ làm những công việc to lớn, nặng nhọc, những công việc như sẩy lúa hay sàng gạo cần sự khéo léo thì thường là phụ nữ trong nhà làm. Vì thế, đến khi vắng mặt người phụ nữ thì người đàn ông không biết làm những việc đó. Câu tục ngữ có ý khuyên răn đàn ông/con trai cũng cần phải biết làm các công việc của phụ nữ để đến khi cần (vợ đẻ) thì cũng có thể tự làm được.
|
|
|
19 |
Đất không ải thì rải thêm phân
|
Câu tục ngữ nói đến kinh nghiệm là đất, cách thức là phải chú trọng đất ải. Nếu đất chưa ải thì người nông dân phải rải thêm phân
|
|
|
20 |
Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau
|
Đất thiếu nghĩa là nhà còn khó, nên trồng dừa để có cái ăn. Ngược lại, đất thừa nghĩa là nhà khá giả, có thể trồng cau để làm cảnh. Có nơi giảng đây là kinh nghiệm trồng dừa và cau, do đặc điểm sinh trưởng khác nhau nên tùy theo điều kiện đất đai mà trồng cho thích hợp.
|
|
|
21 |
Đầu năm trồng chuối, cuối năm trồng cam
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm trồng trọt của ông cha ta:
Với các cụ xưa, đầu năm (tháng 1, tháng 2) là thời điểm tốt nhất để trồng chuối. Thời gian này, thời tiết đang có dấu hiệu ấm dần. Cây chuối là cây chịu hạn. Người ta “đánh” cây non và trồng ở góc vườn, bờ ao cho thoáng mát, không bị nắng nhiều. Chuối sẽ bén rễ và khi nắng ấm, mưa xuống sẽ phát triển nhanh, chừng vài ba tháng là ra hoa, trổ buồng và hai, ba tháng tiếp theo đã có thể thu hoạch.
Cam là cây ăn quả, hoa màu trắng, quả tròn, có múi, nhiều nước. Đây là loại quả bổ dưỡng, rất được ưa chuộng. Cam thu hoạch chủ yếu vào khoảng tháng 10, tháng 11. Sau khi hái quả, người ta cắt những cành cam chiết (một cách nhân giống từ cây gốc) và trồng sang đất mới. Cam là một trong những cây chịu rét tốt. Vì vậy, trồng cam vào cuối đông là thích hợp.
|
|
|
22 |
Đậu ra hoa, thì ta vun gốc
|
Câu tục ngữ là kinh ngiệm trồng trọt của ông cha ta. Khi đậu ra hoa, người nông dân xới đất vun quanh gốc của nó. Hành động này làm cho đất tơi, xốp, không khí lưu thông, đảm bảo cho bộ phận rễ cây thở được bình thường.
|
|
|
23 |
Đói ăn vụng, túng làm liều
|
Đời sống khó khăn xui người ta làm liều, bất chấp lương tri và những luật lệ thông thường. Câu tục ngữ ý nói khi thiếu thốn khiến người ta làm việc phi pháp bất lương.
|
|
|
24 |
Đói thì ăn ráy ăn khoai, đừng thấy lúa giỗ tháng Hai mà mừng
|
Lúa trổ vào tháng 2 (âm lịch) là thời kỳ hoạt động mạnh của các đợt gió mùa Đông Bắc với tính chất lạnh giá (miền Bắc nước ta), khiến lúa sẽ “ngậm đòng, đứng bông”. Câu tục ngữ nói về kinh nghiệm trồng trọt: lúa trổ bông vào tháng Hai là mất mùa nên thà ăn củ ráy, củ khoai ngứa còn hơn lúa giỗ tháng hai.
|
|
|
25 |
Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ
|
Câu tục ngữ là một kinh nghiệm trồng trọt: tháng hai (khi đom đóm bay ra nhiều) là tháng thuận cho việc tra vừng, tra đỗ, trồng cà.
|
|
|
26 |
Đông chí trồng bí trồng bầu
|
Câu tục ngữ là đúc kết kinh nghiệm lao động, sản xuất của nhân dân ta. Đông chí là cuối tháng 12, thời gian này thời tiết mát mẻ, không mưa nhiều nên bầu bí sẽ nhanh nảy mầm và phát triển tốt.
|
|
|
27 |
Được mùa cau, đau mùa lúa
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm trồng trọt: năm nào được mùa cau thì mất mùa lúa và ngược lại.
|
|
|
28 |
Được mùa quéo, héo mùa chiêm
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm sản xuất của ông cha trong trồng trọt. Được mùa quéo, héo mùa chiêm nghĩa là được mùa của cây này lại bị mất mùa, hư hại giống cây khác.
|
|
|
29 |
Được người mua, thua người bán
|
Câu tục ngữ là đúc kết kinh nghiệm mua bán của nhân dân ta: lợi người mua thì thiệt người bán và ngược lại.
|
|
|
30 |
Ếch tháng Ba, gà tháng Bảy
|
Câu tục ngữ quen tai, nói về ếch mùa xuân thơm béo, gà mùa hè thơm ngon. Vào tháng ba, sau thời gian ở trong hang tránh rét, gặp thời tiết ấm áp, ếch ra khỏi hang có nhiều thức ăn và chuẩn bị sinh sản. Vì vậy, ếch vào tháng ba rất béo, thịt ngon. Tháng Bảy mùa mưa, mát mẻ đất trời, côn trùng, giun dế cũng sinh sôi nảy nở, trở thành nguồn ăn dồi dào cho gà, vì thế thịt gà thời này cũng ngon hơn hẳn.
|
|
|
31 |
Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm của ông cha ta trong nuôi gia súc, gia cầm. Theo kinh nghiệm, gà đen chân trắng dễ nuôi, chóng lớn, khả năng đề kháng bệnh rất tốt.
|
|
|
32 |
Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy
|
Gà trắng mà chân đen thì lười kiếm ăn, chậm lớn và hay bị toi, không nên nuôi.
|
|
|
33 |
Già mạ tốt lúa
|
Một kinh nghiệm cấy trồng là mạ đủ ngày đủ tháng cứng cây thì cấy chóng bén rễ từ đó lúa tốt hơn, dễ bội thu.
|
|
|
34 |
Giàu nuôi lợn đực, khó nuôi lợn cái
|
Nuôi lợn là giải pháp vực dậy kinh tế nhanh nhất, hữu hiệu nhất với người nông dân xưa. Nhà nghèo nên nuôi lợn cái vì mỗi mùa sinh sản sẽ thu hoạch được lợn con, giúp gia chủ nhân giống rất nhanh.
|
|
|
35 |
Khoai đất lạ, mạ đất quen
|
Dân gian có câu “khoai đất lạ, mạ đất quen”, nghĩa là trồng khoai trên đất mới sẽ cho năng suất cao hơn so với trồng nhiều vụ trên cùng một thửa đất. Do quá trình sống của khoai khai thác khoáng chất của đất, thu hoạch khoai không trả lại khoáng cho đất làm khoai bị thiếu khoáng khi trồng ở các vụ sau. Còn mạ thì ưa đất quen thì nó mới tốt .Đó là kinh nghiệm quý báu cho việc canh tác, trồng trọt của ông ta xưa cho việc phát triển kinh tế, nhu cầu cuộc sống bản thân.
|
|
|
36 |
Không nước không phân chuyên cần vô ích
|
Nếu cây không được cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết như nước và phân để nuôi dưỡng và phát triển thì dù bỏ ra bao nhiêu công sức gieo trồng thì cũng vô dụng. Câu tục ngữ là kinh nghiệm trồng trọt của ông cha ta truyền lại cho con cháu đời sau, nhắc nhở tầm quan trọng của nước và phân bón.
|
|
|
37 |
Không tại mạ, tại lạ tay bừa
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm của ông cha ta khi cấy lúa, gieo mạ: Kỹ thuật bừa đất để gieo mạ vô cùng quan trọng, cùng là cây mạ đấy nhưng bừa đất không khéo mạ có thể chết.
|
|
|
38 |
Làm ruộng thì ra, làm nhà thì tốn
|
Câu tục ngữ ý nói: Làm nhà cửa rất tốn kém, thường vượt quá khoản trù định ban đầu. Còn làm ruộng thì ta có thu hoạch, có thêm thu nhập, chẳng tốn đồng nào lại còn có tiền để ra.
|
|
|
39 |
Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng
|
Làm thầy ở đây là làm thầy bói, thầy đồng, thầy cúng, … Sau mỗi lần hành nghề xong, các thầy không chỉ được ăn uống no say, mà còn thu hoạch được nhiều của cải vật chất mang về nhà để nuôi sống gia đình, vợ con. Còn “làm thợ” (bao gồm: thợ mộc, thợ nề, thợ sơn, thợ vẽ, thợ bạc, thợ hồ, thợ may... ) thì nhìn chung thu hoạch quá thấp, chỉ đủ để nuôi sống bản thân mà thôi.
|
|
|
40 |
Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm chăn nuôi trâu bò: con nào có vết loang lổ ở đuôi thì hại chủ, con nào có lang trên trán thì cày bừa tốt, dễ nuôi.
|
|
|
41 |
Một nong tằm là năm nong kén, một nong kén là chín nén tơ
|
Câu tục ngữ khái quát nên nỗi vất vả của người chăn nuôi tằm – một trong những nghề truyền thống của dân ta.
|
|
|
42 |
Nắng sớm thì đi trồng cà, mưa sớm ở nhà phơi thóc
|
Từ xưa, ông cha ta dựa vào việc quan sát bầu trời, mặt trăng, mặt trời hay các quy luật mà đúc kết thành những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ để dự báo thời tiết. Câu tục ngữ này là Một kinh nghiệm dự đoán thời tiết là vào thời vụ trồng cà, nếu sáng sớm có nắng thì chiều lại hay mưa (lúc đó cà mới được trồng bén rễ), nếu lác đác mưa buổi sớm thì trưa chiều nắng to (thóc phơi được nắng).
|
|
|
43 |
Nhịn đói nằm co hơn ăn no vác nặng
|
Câu tục ngữ là lý lẽ của kẻ lười biếng, trốn tránh lao động. Kẻ lười thà không có gì ăn, nhịn đói còn hơn làm việc nặng nhọc. Mượn cớ ăn no vác nặng dễ gây đau bụng để bao biện cho thói lười biếng của bản thân. Người ta không thể có nhà cao cửa rộng, bữa ăn linh đình, nếu chỉ trông vào cơ sự “ăn đói nằm co”. Đó là lý do chính khiến nhiều người còn sống nghèo hèn.
|
|
|
44 |
Nước cả, cá to
|
Nước cả: tức nước lớn, chỉ vùng nước có diện tích rộng. Cá cả: tức cá lớn, kích thước so với cá thông thường lớn hơn nhiều. Câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm về thủy sản: ao sâu, nước lớn có cá to.
Hình ảnh nước lớn còn tượng trưng cho môi trường, hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển của con người, trong cuộc sống, công việc. Còn hình ảnh cá cả là Những con người có nhân cách, chí lớn, thành công. Câu tục ngữ còn có nghĩa khác là: Trong một môi trường, hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển sẽ tạo ra những con người có nhân cách đạo đức, có ý chí và khao khát lớn. Những con người ấy sẽ gặt hái được thành công trong cuộc sống của mình
|
|
|
45 |
Thóc lúa về nhà, lợn gà ra chợ
|
Câu tục ngữ chỉ quá trình thu hoạch, mua bán của nhân dân ta xưa kia. Sau mỗi vụ gặt, nhà nào nhà ấy chất đống toàn thóc, toàn gạo. Còn lợn, gà khi đã lớn sẽ được mang ra chợ bán lấy tiền để giúp người nông dân trang trải cuộc sống.
|
|
|
46 |
Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ
|
"Tay làm hàm nhai" chỉ những người chăm chỉ làm việc, lao động thì sẽ có cái để ăn, được ấm no, đầy đủ. "Tay quai" là tay không làm việc, chỉ những người biếng nhác. Tay quai miệng trễ tức những người lười biếng, không chịu làm việc thì sẽ chẳng có cái để ăn, sẽ đói khát, thiếu thốn. Không dưng ai dễ đem phần tới cho.
|
|
|
47 |
Trăm hay không bằng tay quen
|
"Trăm hay" là cách nói mộc mạc, có nghĩa là biết hàng trăm điều tức là biết nhiều, lý thuyết giỏi. Còn "tay quen" có nghĩa là thaọ việc, làm thuần thục, nói cách khác là thực hành giỏi, thành thạo công việc. Như vậy, câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen" muốn khẳng định biết lí thuyết nhiều cũng không thể bằng thói quen thành thạo công việc.
|
|
|
48 |
Trồng cây đừng chạm lá, nuôi cá đừng chạm vảy
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm trồng cây, nuôi cá của dân ta được đúc kết lại. Trồng cây, nuôi cá mà chạm lá, chạm vây khiến cây dễ bị chết, bị bệnh.
|
|
|
49 |
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
|
Câu tục ngữ muốn thể hiện kinh nghiệm trồng lúa nước nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung. “Nước”, “phân”, “cần” và “giống” là 4 yếu tố quan trọng, không thể thiếu khi canh tác, trồng trọt. Đây là 4 yếu tố bổ trợ cho nhau và không thể tách rời.
|
|
|
50 |
Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng
|
Câu tục ngữ muốn nói đến nỗi khó nhọc, vất vả của nghề nuôi tằm. Đây là một công việc rất bận rộn khiến người chăn nuôi không có nhiều thời gian.
|
|
|
51 |
Nhất thì, nhì thục
|
Câu tục ngữ nêu lên kinh nghiệm về kĩ thuật trồng trọt, làm lúa nước
Thứ nhất là phải coi trọng thời vụ. Trái thời vụ, thời tiết là thất bát.
Thứ nhì là phải cày sâu cuốc bẫm, vun xới, chăm bón, làm cỏ, không để ruộng đất hoang hóa, bạc màu; làm cho đất đai ngày một thêm màu mỡ.
Yếu tố thời gian, mùa vụ, yếu tố đất đai là hai yếu tố tạo nên mùa màng tốt tươi, năng suất cao, bội thu.
|
|
|
52 |
Chuồng gà hướng Đông, cái lông chẳng cò
|
Không nên xây chuồng gà hướng đông vì đó là hướng gió thổi có thể làm chuồng tan hoang, gà bị cúm chết hết, đến sợi lông cũng chẳng còn.
|
|
|
53 |
Tấc đất tấc vàng.
|
Câu tục ngữ khẳng định tầm quan trọng của đất đai đối với cuộc sống của con người. Đất được so sánh với vàng - một thứ kim loại quý, có giá trị kinh tế cao nhằm nhắc nhở chúng ta rằng đất là tài nguyên vô cùng quý giá. Nhờ có đất đai mà con người có nơi sinh sống và làm việc. Cuộc sống của con người diễn ra trên mặt đất. Chính bởi giá trị ấy mà chúng ta cần phải biết trân trọng từng tấc đất, từng thửa ruộng.
Hiểu theo nghĩa hẹp, câu tục ngữ muốn nhắc nhở chúng ta cần phải quý trọng đất đai phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất
Theo nghĩa rộng hơn, đầy còn là lời nhắc nhở chúng ta cần phải giữ gìn và bảo vệ lãnh thổ của quốc gia, dân tộc bởi để tạo dựng được những "tấc đất" ngày nay, đã có biết bao thế hệ ông cha đã hi sinh mồ hôi, công sức và cả xương máu của mình.
|
|
|
54 |
Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi.
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm của ông cha ta trong việc trồng cấy: khi trồng tre phải trồng trên đất sỏi, trồng lúa phải trồng trên đất bồi, như thế cây mới phát triển mạnh mẽ được. Từ đó, câu tục ngữ nhắc nhở chúng ta về việc lựa chọn đúng loại đất khi trồng trọt.
|
|
|
55 |
Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa.
|
Nghĩa đen: Chúng ta nhai kĩ sẽ có cảm giác no lâu; còn khi cày xới đất sâu thì lúc cấy lúa, cây lúa mới tốt tươi.
Nghĩa bóng: Câu tục ngữ là kinh nghiệm của người xưa về cách cấy lúa: đó là phải cày đất sâu; qua đó nhắn nhủ mọi người khi làm một việc nào đó, cần phải kiên nhẫn, tỉ mỉ, cẩn thận.
|
|
|
56 |
Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.
|
Câu tục ngữ đề cao vai trò của con trâu và hạt thóc trong sản xuất nông nghiệp. Người làm giàu mà không có thóc thì tức là vẫn chưa thể giàu nhanh được, cũng như người đi cày mà không có trâu thì không cày được ruộng.
|
|
|
57 |
Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa.
|
Câu tục ngữ khuyên con người cần phải lựa chọn thật kĩ giống cây trồng trước khi trồng trọt, nhằm thu được một mùa màng bội thu.
|
|
|
58 |
Được mùa chê cơm hẩm, Mất mùa lẫm cơm thiu.
|
Nghĩa đen: Khi được mùa vụ, thu được nhiều thóc lúa, chúng ta dễ dàng chê bai gạo xấu. Nhưng khi bị mất vụ, không có thóc lúa, chúng ta còn không có gạo xấu, chỉ có thể ăn cơm thiu.
Nghĩa bóng: Câu tục ngữ khuyên chúng ta không nên phí phạm, biết tiết kiệm để phòng trừ những trường hợp không mong muốn.
|
|
|
59 |
Đất màu trồng đậu trồng ngô Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn.
|
Câu tục ngữ đưa đến cho chúng ta những kinh nghiệm trong trồng trọt: trồng đậu, trồng ngô ở đất màu, trồng lúa ở đất lầy và làm vườn ở phần đất cao, khô ráo. Qua đó, câu tục ngữ nhắn nhủ chúng ta về tầm quan trọng của việc chọn đất khi trồng cấy.
|
|
|
60 |
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm về dự báo thời tiết mà người xưa đúc kết được: thấy chuồn chuồn bay thấp, tức là trời sẽ mưa; còn thấy chuồn chuồn bay cao, trời sẽ nắng to.
Về mặt khoa học khi trời sắp mưa, độ ẩm trong môi trường tăng lên, hơi nước ngưng tụ.. chuồn chuồn là loài động vật cánh mỏng hơi nước trong không khí sẽ đọng lên cánh làm cánh nặng hơn (tăng tải trọng) vì thế chuồn chuồn không bay cao được. Còn ngược lại khi trời nắng thì cánh chuồn chuồn khô và nhẹ giúp chúng bay cao
|
|
|
61 |
Đầu năm gió to, cuối năm gió bấc.
|
Câu tục ngữ đưa ra một kinh nghiệm về thời tiết: khi thấy vào đầu năm, trời trở gió to thì có thể vào cuối năm, thời tiết sẽ rất rét và xấu.
|
|
|
62 |
Thứ nhất cày nỏ, thứ nhì bỏ phân
|
Câu tục ngữ khẳng định tầm quan trọng của việc cày bừa và bón phân trong việc nâng cao năng suất cây trồng. Cày bừa là bước đầu tiên, tạo nền tảng cho sự phát triển của cây trồng. Bón phân là yếu tố then chốt cung cấp dinh dưỡng cho cây, giúp cây phát triển tốt nhất.
|
|
|
63 |
Một hòn đất nỏ bằng một giỏ phân
|
Câu tục ngữ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phơi đất trước khi gieo trồng. Khi đất được phơi nỏ, các hạt đất sẽ tơi xốp, tạo điều kiện cho rễ cây dễ dàng phát triển, hút nước và dinh dưỡng tốt hơn. Đồng thời, việc phơi đất còn giúp tiêu diệt mầm mống sâu bệnh, nấm mốc, tạo môi trường sống thuận lợi cho cây trồng
|
|
|
64 |
Giàu nuôi lợn nái, lụn bại nuôi bồ câu
|
Nghĩa đen: Câu tục ngữ là kinh nghiệm chăn nuôi từ thời xưa, theo đó, nuôi lợn nái thì thường chóng giàu còn nuôi chim bồ câu không có lãi.
Nghĩa bóng: Câu tục ngữ khuyên răn người giàu nên sử dụng tài sản một cách hợp lý, đầu tư sinh lời để gia tăng tài sản. Ngược lại, người nghèo cần biết tiết kiệm, chi tiêu hợp lý, dù chỉ là những thứ nhỏ bé cũng cố gắng vun đắp, phát triển để cải thiện đời sống.
|
|
|
|
|
|
|